Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm lấy dân làm gốc từ góc nhìn quân sự!

         

 Trong suốt chiều dài lịch sử lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, hiếm có dân tộc nào trên thế giới phải trải qua nhiều cuộc kháng chiến trường kỳ để bảo vệ độc lập, chủ quyền như Việt Nam. Và trong toàn bộ quá trình lịch sử ấy, là bài học lấy dân làm gốc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định vừa là nền tảng, vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình trong đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước

1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về “dân làm gốc”: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết của dân làm gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, và biết dựa vào dân, cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề dân làm gốc. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”. “Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình. Trong tư tưởng của Người, quan điểm dân làm gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

          Từ thực tiễn cuộc sống, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để thực sự “lấy dân làm gốc”, cần phải:

          Thứ nhất, luôn tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; phải lấy mục đích bảo vệ cho nhân dân sống yên vui, hạnh phúc làm đầu, phải vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ; lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sống của mình.

          Thứ hai, làm tốt công tác dân vận. Điều đó có nghĩa là, phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho. Người cán bộ phải thường xuyên đi xuống dân, gắn bó với dân; tăng cường đối thoại với nhân dân, trực tiếp gặp gỡ, hỏi han và bàn bạc với dân, để nghe dân nói, xem dân làm, thấy được cách sinh hoạt, làm việc, cuộc sống của dân, và quan trọng hơn là đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc của họ, biết họ đang nghĩ gì, cần cái gì, muốn cái gì, lo cái gì… Từ đó, đề ra hoặc sửa đổi, bổ sung chủ trương, chính sách làm cho ý Đảng, lòng dân thống nhất, hoà quyện với nhau.

          Thứ ba, phải nâng cao ý thức cảnh giác của nhân dân đối với những âm mưu phá hoại, những luận điệu xuyên tạc, chống phá mà các thế lực thù địch có thể tuyên truyền trong quần chúng nhân dân hòng hạ thấp uy tín của Đảng, làm cho nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, kích động nhân dân chống lại chế độ, gây mất ổn định chính trị và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

2. Lấy dân làm gốc đã trở thành hòn đá tảng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Sau những năm bôn ba tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tìm ra chân lý: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình"(1).

          Từ chân lý đó, Người xác định: Mọi tiến trình cách mạng của dân tộc phải là của dân, do dân tiến hành và mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân. Theo quan điểm của Người: Dân vừa là mục tiêu để thực hiện cách mạng, vừa là động lực của cách mạng. Người nói: "Nước lấy dân làm gốc, quần chúng là gốc của cách mạng, cách mạng cũng như chiến tranh cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng cách mạng"(2).

          Năm 1923, khi Người bí mật rời nước Pháp, trong thư để lại cho các đồng chí bạn, Người nói rõ mục tiêu của mình là: "Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập "(3). Trên đường trở về nước, dừng chân ở Trung Quốc, theo dõi thực tế kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, Người khái quát: Trước họa xâm lăng; nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là kiên quyết tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, phát triển và củng cố mặt trận dân tộc chống xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, tăng cường lực lượng kháng chiến. Mà nhiệm vụ lịch sử của cơ quan lãnh đạo kháng chiến là phải: “Đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đối với việc động viên và tổ chức nhân dân”(4).

          Khi về nước, Người triệu tập ngay Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (10-5-1941), một hội nghị đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của đảng ta. Theo đề nghị của Người, ngày 19-5-1941, Hội nghị quyết định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam - Độc lập - Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh), với mục tiêu là nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.

          Mặt trận Việt Minh ra đời thực sự đã trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng cách mạng Việt Nam và khẳng định quan điểm lấy dân làm gốc trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

          Cũng trong lần về Tổ quốc đầu tiên này, năm 1941, trong kính cáo đồng bào, Người kêu gọi toàn dân tộc: “Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi”(5)“Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề…"(6).

          Là lãnh tụ của Đảng, của cách mạng, với một sức truyền cảm hiếm có, Người khơi dậy lòng yêu nước và truyền thống bất khuất của dân tộc:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”(7).

          Nêu cao lòng tự hào dân tộc, Người tự tay viết diễn ca về lịch sử Việt Nam: "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"(8).

          Khi Mặt trận Việt Minh ra đời, Người viết: "Mười chính sách của Việt Minh" để cho dân hiểu, dân biết, dân tham gia và ủng hộ cách mạng.

          Vào thời điểm quan trọng, quyết định vận mệnh của Tổ quốc, trong thư gửi đồng bào cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa Người kêu gọi:“Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đua nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”(9).

          Như vậy, chỉ hơn bốn năm sau, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh đã được triển khai đến hầu khắp đất nước. Để đến tháng 8 năm 1945, khi thời cơ đến, tình hình Chiến tranh thế giới thứ hai chuyển biến nhanh chóng với sự đầu hàng của quân đội Nhật trước Hồng quân Liên Xô và Đồng minh, tạo nên cơ hội lớn cho cách mạng Việt Nam, thì quần chúng mà nòng cốt là Mặt trận Việt Minh đã lớn mạnh và sẵn sàng thực hiện sứ mệnh lịch sử tiến hành Tổng khởi nghĩa và thực hiện Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ lầm than, lập nên nước Việt Nam - Dân chủ - Cộng hòa.

          Khi Tổ quốc lại lâm nguy, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người viết: "Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"(10).

          Đứng trước nguy cơ thực dân Pháp trở lại chiếm nước ta một lần nữa, Người khẳng định: Dân tộc Việt Nạm nay bị đặt trước hai đường: Một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập. “Không! Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại nô lệ nữa. Dân tộc Việt Nam thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do" và kêu gọi: "Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất"(11).

          Chiến tranh nhân dân Việt Nam là của dân, do dân và vì dân, Hồ Chí Minh tin tưởng chắc chắn rằng: "Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch"(12).

          Trả lời các nhà báo nước ngoài về triển vọng của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của nhân dân ta, Người nói: "Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam tỏ cho ta biết rằng: “Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ"(13).

          Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân", “Quân tốt, dân tốt. Muôn sự đều nên. Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"(14).

          Lực lượng cách mạng nòng cốt của dân lúc này là các đội dân quân du kích và vệ quốc quân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

          Trong thư gửi Hội nghị dân quân Toàn quốc (1948) vừa biểu dương những thành tích, vừa phê bình nhắc nhở những khuyết điểm của dân quân du kích, Người nêu lên những việc phải làm: “1. Thiết thực tổ chức và thiết thực huấn luyện dân quân du kích từng làng. Lấy dân quân du kích làng làm nền tảng; đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly. 2. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ và tin tưởng vào lực lượng của ta, tin tưởng vào vũ khí thô sơ của ta. 3. Phối hợp thật chặt chẽ với vệ quốc quân. 4. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ các nhiệm vụ vẻ vang của họ.
5. Làm cho họ hiểu rõ chiến thuật du kích là: phải luôn luôn giữ quyền chủ động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn khuấy rối phá hoại địch, phải cộng những thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to. 6. Phải thực hành tự cấp tự túc bằng cách thiết thực, bằng cách tăng gia sản xuất. 7. Phải thực hành những điều đó bằng cách thi đua
(15).

          Người luôn luôn động viên nhân dân, chỉ rõ con đường để vượt mọi trở ngại khó khăn, đi tới chiến thắng. Người luôn cổ vũ chiến công, thành tích thi đua kháng chiến của các tầng lớp nhân dân trên mọi lĩnh vực. Chính Người đã thường xuyên nuôi dưỡng, động viên, biến tinh thần yêu nước thành hành động cách mạng bằng việc phát động các phong trào thi đua yêu nước. Từ các phong trào thi đua này mà nhờ đó đã phát huy đến cao độ sức mạnh của mỗi người, của mọi người thêm yêu nước, thêm tự hào để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Thơ của Người đã trở thành khẩu hiệu:“Người người thi đua, Ngành ngành thi đua, Ta nhất đinh thắng, Địch nhất định thua”.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh phong phú và đa dạng, chứa đựng những chân lý bền vững đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và xác nhận. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, trong tư tưởng chỉ đạo cũng như trong thực tiễn hành động, Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, quyền lực của dân, luôn tin vào khả năng và sức mạnh của dân, rằng còn dân là còn nước, được lòng dân là được tất cả. Chính tư tưởng “lấy dân làm gốc”, yêu thương, kính trọng nhân dân, luôn tin tưởng vào khả năng, sức mạnh của quần chúng nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vun trồng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng rộng rãi và vững mạnh, góp phần to lớn làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam.

Vũ Thị Yến - Giảng viên Bộ môn Khoa học Chính trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1, 2. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 10.

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 1, tr. 192.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 101.

5,6 . Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Sđđ, tr. 197, 198.

7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.3, tr.221, 205.

8. Hồ Chí Minh, Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội. NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.71.

9. Xem bản bút tích lưu tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
10. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd. 1995, t.4, tr.480.

11. Hồ Chí minh, Toàn tập, Sđd,1995, t.4, tr.484.

12,13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.366, 409, 410.

14. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 366, 409, 410.

15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 416.

Bạn cần hỗ trợ?