Các nhóm giải pháp tăng năng suất lao động

Các nhóm giải pháp thúc đẩy tăng năng suất lao động

 

Ths. Trần Thị Hoa Lý

Đại học Điện lực

 

Cải thiện và thúc đẩy tăng năng suất lao động là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, mang tính cấp thiết, quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tăng năng suất lao động là yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Đạt được năng suất lao động cao mới đảm bảo phát triển nhanh và bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình mà Việt Nam có nguy cơ rơi vào. Năng suất lao động thấp là vấn đề ngày càng trở nên cấp bách khi Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng. 

 

Thực trạng năng suất lao động ở Việt Nam

Thời gian qua, năng suất lao động của Việt Nam đã có nhiều cải thiện và xu hướng tăng ổn định qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khối ASEAN. Sự cải thiện năng suất lao động đã góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy xuất khẩu và có tác động tích cực đến thu nhập của người lao động.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế tính theo giá năm 2017 đạt khoảng 93,2 triệu đồng/lao động. Theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so năm 2016, bình quân của giai đoạn 2011 -2017 tăng 4,7%/năm.

Cụ thể, năm 2011 đạt 55,2 triệu đồng/lao động; năm 2012: 63,1 triệu đồng/lao động; năm 2013: 68,7 triệu đồng/lao động; năm 2014: 74,7 triệu đồng/lao động; năm 2015: 79,4 triệu đồng/lao động; năm 2016: 84,5 triệu đồng/lao động.

Tuy nhiên, mức năng suất lao động của Việt Nam hiện còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực. Tính theo sức mua tương đương (PPP) năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt xấp xỉ 9.900 USD, bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia, 36,5% của Thái Lan, 42,3% của Indonesia, 56,7% của Philippines và 87,4% của Lào.

Vấn đề đáng chú ý là chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam các nước tiếp tục tăng. So năm 2006 với năm 2016, chênh lệch với Singapore tăng từ 115.000 USD lên 131.000 USD; với Malaysia tăng từ 39.800 USD lên 46.190 USD; với Thái Lan tăng từ 14.600 USD lên 17.200 USD; với Indonesia tăng từ 10.100 USD lên 13.500 USD; Philippines tăng từ 6.700 USD lên 7.560 USD; với Lào tăng từ 220 USD lên 1.420 USD.

Nguyên nhân năng suất lao động thấp

Thứ nhất , chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Các ngành công nghiệp, dịch vụ có năng suất lao động cao chưa phát triển hết tiềm năng, nhất là các ngành công nghiệp mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao, dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch… Tỷ lệ nội địa hóa, liên kết với khu vực FDI hạn chế nên giá trị gia tăng của nền kinh tế còn hạn chế.Trong cơ cấu kinh tế năm 2017, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 15,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34% và khu vực dịch vụ chiếm 41,3%. Như vậy, tỷ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản trong GDP của Việt Nam cao hơn so với các nước ASEAN 6.

Thứ hai, tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp còn cao. Theo thống kê, năm 2017, Việt Nam có 21,6 triệu lao động trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 40,3% tổng số lao động cả nước nhưng chỉ đóng góp 15,3% GDP. Trong khi năng suất lao động của khu vực nông nghiệp thấp, chỉ đạt 35,5 triệu đồng/lao động, bằng 38,1% năng suất lao động toàn nền kinh tế, bằng 29,4% năng suất lao động của khu vực công nghiệp, xây dựng và bằng 31,3% của các ngành dịch vụ.

Thứ ba, cơ cấu lao động có đào tạo nghề còn thấp. Đến cuối năm 2017 mới có 21,5% lao động cả nước đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ. Cơ cấu lao động còn bất hợp lý, thiếu kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật. Nhiều ngành có năng suất lao động cao nhưng lại thiếu nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Lao động còn hạn chế về tính chuyên nghiệp, ý thức kỷ luật, các kỹ năng mềm, ngoại ngữ.

Thứ tư, doanh nghiệp chưa thực sự đóng vai trò quan trọng, là động lực quyết định nâng cao năng suất lao động. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp, năng suất lao động toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2015 theo giá hiện hành đạt 254,6 triệu đồng/lao động, gấp 3,2 lần năng suất lao động toàn nền kinh tế nhưng mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng năng suất lao động chung. Bình quân trong giai đoạn 2011-2015, năng suất lao động khu vực doanh nghiệp theo giá hiện hành tăng 5,1%/năm, trong khi năng suất lao động toàn nền kinh tế tăng 9,5%.

Ngoài ra, tốc độ tăng năng suất khu vực doanh nghiệp tăng thấp hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân một lao động ở khu vực doanh nghiệp.  Giai đoạn 2007-2013, tiền lương bình quân một lao động khu vực doanh nghiệp tăng 16,9%/năm, trong khi năng suất lao động chỉ tăng 12,9%/năm. Thực tế này chứng tỏ tăng tiền lương chưa phản ánh tăng năng suất lao động và tiền lương tăng nhanh hơn tăng năng suất lao động.

Năng suất lao động khu vực doanh nghiệp thấp có nguyên nhân từ thực tế quy mô doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ, số doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp. Trình độ công nghệ của doanh nghiệp thấp, lạc hậu 20-30 năm so với mức trung bình của thế giới. Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, 76% thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ sản xuất từ những năm 1960-1970; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang. Số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo thấp.

Việc hạn chế tham gia sâu các chuỗi giá trị toàn cầu nên chưa có cơ hội hưởng lợi từ cuộc cách mạng khoa học, công nghệ toàn cầu. Doanh nghiệp trong nước chỉ đảm nhận công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng thấp. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp tham gia thương mại quốc tế có năng suất lao động cao hơn 35% so với doanh nghiệp chỉ hoạt động nội địa. Theo Báo cáo “Tăng cường sức cạnh tranh và liên kết doanh nghiệp vừa và nhỏ” của Ngân hàng thế giới công bố năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam đổi mới, cải tiến sản phẩm thấp so với các nước trong khu vực trong vòng 3 năm trở lại đây với 23%.

Thứ năm, thể chế cơ chế, chính sách còn bất cập, chưa tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi thúc đẩy, khuyến khích ứng ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động.

Giải pháp nâng cao năng suất lao động

Hiện nay, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi phương thức sản xuất - kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi chuyển đổi sang kinh tế tri thức. Do đó những lợi thế hiện về nguồn lao động dồi dào, nhân công giá rẻ dần mất ưu thế, thậm chí làm hạn chế tăng trưởng kinh tế vì nguồn lực mới cho tăng trưởng là năng suất và chất lượng lao động, năng lực sáng tạo và tiềm lực khoa học công nghệ.

Giải quyết bài toán về tăng năng suất lao động cần có chiến lược, giải pháp tổng thể nhưng về ngắn hạn để tạo chuyển biến đột phá, nhanh chóng cải thiện năng suất lao động có thể thực hiện một số giải pháp sau:

Về chính sách vĩ mô:Tiếp tục đẩy mạnh ba đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, tri thức và sáng tạo.Xây dựng chiến lược hoặc đề án nâng cao năng suất lao động quốc gia, trong đó đề ra nhiệm vụ, giải pháp của từng giai đoạn, gắn với cơ chế đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ về tăng năng suất lao động.

Về hoàn thiện thể chế kinh tế:Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế để đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế chính sách.Nghiên cứu cải cách chính sách tín dụng, thuế khuyến khích mạnh mẽ cho nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ. Nghiên cứu chính sách tiền lương, tiền công phù hợp cơ chế thị trường, phù hợp giữa tăng tiền lương và tăng năng suất lao động.

Đối với một số ngành quan trọng: Trước hết tập trung tái cơ cấu hiệu quả các ngành chủ chốt như công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Tập trung phát triển sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao; giá trị xuất khẩu lớn, sử dụng công nghệ cao, tự động hóa, tạo nhiều việc làm kỹ thuật cao, giảm dần các ngành sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản và lao động giản đơn. Chú trọng đầu tư nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm mới; thu hút công nghệ mới, hiện đại. Hình thành các mạng liên kết sản xuất, chuỗi giá trị của ngành, trước hết là trong các ngành hàng xuất khẩu chủ chốt. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới, sản phẩm mới, đổi mới cải tiến sản phẩm.

Có giải pháp đột phá tăng năng suất lao động ngành nông nghiệp, đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu, chú trọngphát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ, nghiên cứu tạo giống mới. Đẩy mạnh thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn để thúc đẩy chuyển dịch sang công nghiệp, dịch vụ.

Phát triển mạnh mẽ các ngành dịch vụ, khai thác tốt các thế mạnh, nhất là các dịch vụ cơ bản phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Tập trung vào các ngành có khả năng đóng góp lớn cho tăng năng suất lao động như: công nghệ thông tin và truyền thông, giáo dục và đào tạo, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, phát triển kinh doanh, dịch vụ chuyên môn, logistics và vận tải, du lịch, khoa học công nghệ, phân phối, y tế, xây dựng. 

Về phát triển doanh nghiệp:Thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu, gắn kết chặt chẽ với khu vực FDI, tăng cường chuyển giao công nghệ, tăng tỷ lệ nội địa hóa, tỷ trọng cung ứng sản phẩm, linh kiện, chi tiết nội địa cho các doanh nghiệp FDI. Đẩy mạnh khởi nghiệp sáng tạo, sân chơi kinh doanh thay đổi theo hướng cán cân quyền lực thị trường từ phía người sở hữu quan hệ sang người sở hữu tri thức sáng tạo.

Về tiếp cận thị trường: Khai thác hiệu quả các FTA để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, liên kết với các tập đoàn nước ngoài. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghệ, phát triển sản phẩm mới tham gia đấu thầu mua sắm công, tạo thị trường hỗ trợ phát triển.

Về giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực. Sắp xếp lại hệ thống đào tạo nghề, đổi mới cơ chế hoạt động, phương thức chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo. Đào tạo và đào tạo lại nghề cho lao động, đáp ứng yêu cầu.

Về truyền thông, nâng cao nhận thức: Nâng cao nhận thức về vấn đề tăng năng suất lao động gắn với nâng cao ý thức kỷ luật, tính chuyên nghiệp của người lao động; huy động các tổ chức đoàn thể tổ chức các phong trào, cuộc vận động có nội dung cụ thể, thiết thực gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng ngành về tăng năng suất lao động.

Cải thiện năng suất lao động là vấn đề cốt lõi đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng bền vững, hội nhập quốc tế và năng lực cạnh tranh của quốc gia, là yếu tố quan trọng đảm bảo góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra trong giai đoạn 2016-2020, tạo nền tảng chắc chắn hơn cho sự phát triển ở giai đoạn sau.

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.

2. Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về một số chủ trương chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

3. Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính về tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0.

4. Quyết định 2146/QĐ-TTg ngày 01/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành công thương phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

5. Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

6. Quyết định 1819/QĐ-TTg ngày 16/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017 – 2020.

7. Quyết định 134/QĐ-TTg ngày 26/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngànhxây dựng gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2014 – 2020.

8. Quyết định 2146/QĐ-TTg ngày 01/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngànhgiao thông vận tải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020.

9. Báo cáo Năng suất lao động Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, năm 2016, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Bạn cần hỗ trợ?